nam lim xanh, đăng ký nhãn hiệu, tai game, chat zalo, rèm cửa, tai game pikachu, đăng ký kết hôn với người nước ngoài, vay vốn ngân hàng, shop áo đôi đẹp nhất, tai facebook, tai game iwin, tai game avatar, áo thun đôi, máy chủ, thiet ke noi that chung cu,thiết kế web chuẩn seo

OAT có giãn tĩnh mạch thừng tinh: hiệu quả điều trị của vi phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn

Đăng lúc: Thứ tư - 03/07/2013 16:45 - Người đăng bài viết: Bs. Tăng Quang Thái
OAT có giãn tĩnh mạch thừng tinh: hiệu quả điều trị của vi phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn

OAT có giãn tĩnh mạch thừng tinh: hiệu quả điều trị của vi phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn

Tăng Quang Thái, Lê Đăng Khoa, Trương Mộng Nghi, Trần Bảo Ngọc, Thái Hoàng Hạnh Nhung, Tề Thị Phương Thảo
TÓM TẮT
Mục tiêu nghiên cứu
Xác định hiệu quả điều trị của vi phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn trên sự cải thiện kết quả tinh dịch đồ ở bệnh nhân nam vô sinh do oligo-astheno-teratospermia (OAT)có giãn tĩnh mạch thừng tinh (GTMTT).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu thực hiện trên 59 cặp vợ chồng vô sinh được xác định nguyên nhân vô sinh do chồng bị OAT và có giãn tĩnh mạch thừng tinh. Mẫu nghiên cứu được chia làm 2 nhóm can thiệp: nhóm có thực hiện vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn (n=28) và nhóm không phẫu thuật (tư vấn thay đổi lối sống) (n=31). Tinh dịch đồ được thực hiện mỗi tháng trong suốt quá trình theo dõi kéo dài 03 tháng sau can thiệp.
Kết quả
Thay đổi lối sống, sau 3 tháng, mật độ tinh trùng tăng 2,5x106/ml (95%CI; (-0,78)-5,7), độ di động tiến tới nhiều hơn 2,66% (95% CI; 1,71-3,62), và tỷ lệ hình thái bình thường cao hơn 0,33% (95%CI; (-0,35)-1,01).
Với nhóm can thiệp bằng vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn, sau 3 tháng, mật độ tinh trùng tăng có cải thiện 9,5x106/ml (95%CI; (5,73)-13,27), độ di động tiến tới nhiều hơn 6,33% (95%CI; 3,51-9,15), và tỷ lệ hình thái bình thường cao hơn 1,53% (95%CI; (0,59)-2,47). So sánh vi phẫu cột giãn tĩnh mạch thừng tinh giãn và các biện pháp thay đổi lối sống cho kết quả: mật độ tinh trùng trong nhóm có phẫu thuật cao hơn nhóm không phẫu thuật 8,13x106/ml (95%CI; 4,28-11,99; P<0,0001), độ di động tiến tới nhiều hơn 4,15% (95%CI; (-0,47)-8,77; P=0,076), tỷ lệ hình thái bình thường cao hơn 0,50% (95%CI; (-0,59)-1,59; P=0,354).
Kết luận
Vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn là một trong những phương pháp điều trị có hiệu quả. Những biện pháp thay đổi lối sống có giá trị như một phương pháp điều trị không cần dùng thuốc. Cần có những nghiên cứu tiếp theo đánh giá hiệu quả điều trị khi phối hợp vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn với các phương pháp điều trị khác. Việc giáo dục sức khoẻ và duy trì lối sống lành mạnh có thể góp phần tăng chất lượng tinh trùng trong cộng đồng chung.
GIỚI THIỆU
Kể từ khi em bé thụ tinh ống nghiệm đầu tiên trên thế giới chào đời vào năm 1978, một chuyên ngành mới cũng được phát triển, nhờ có sự phát triển của các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản mà nhiều cặp vợ chồng đã có được niềm vui làm cha làm mẹ (David K Gardner, 2009). Ngày nay, vô sinh ảnh hưởng đến 10-15% cặp vợ chồng đang mong muốn có con, một nửa trong số đó là do vô sinh nam.Giãn tĩnh mạch thừng tinh (GTMTT) là một trong những tác nhân thường gặp nhất ở vô sinh nam. GTMTT hiếm khi phát hiện trước 10 tuổi và thường tăng lên khoảng 15% khi bước vào tuổi trưởng thành. Trong khi đó, GTMTT hiện diện trong 20-40% bệnh nhân vô sinh nam (Dubin và Amelar 1977; Marks và cs 1986).Đến nay, cơ chế bệnh GTMTT ảnh hưởng lên chức năng tinh hoàn vẫn còn chưa rõ nhưng là yếu tố ảnh hưởng làm giảm chất lượng và số lượng tinh trùng (Howards, 1995; David K Gardner,2009). Một nhóm nhà lâm sàng (đa số là niệu khoa, nam khoa…) thì cho rằng điều trị GTMTT đem lại lợi ích cho bệnh nhân vô sinh nam. Nhiều bằng chứng cho thấy điều trị GTMTT không những giúp ngăn ngừa suy giảm chức năng mà còn giúp hồi phục tổn thương tinh hoàn (thông qua tăng độ di động, chất lượng tinh trùng…) (Cocuzza et al., 2008). Tuy nhiên, vấn đề lựa chọn và phối hợp các phương pháp điều trị vẫn còn nhiều tranh luận bởi một nhóm nhà lâm sàng khác nghĩ rằng vẫn chưa có đủ bằng chứng thuyết phục chứng tỏ các phương pháp này đem lại tỷ lệ thành công cao (tỷ lệ có thai, tỷ lệ sinh sống…) (Evers JLH 2010). Dù vậy, điều trị GTMTT trong vô sinh nam hiện nay là một quan điểm lâm sàng phổ biến tại Việt Nam và trên thế giới, hiệu quả bước đầu của các phương pháp điều trị vẫn được đánh giá dựa trên thay đổi kết quả Tinh dịch đồ. 
Điều trị giãn tĩnh mạch thừng tinh bao gồm phương pháp phẫu thuật và phương pháp dùng thuốc. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu cho thấy mỗi phương pháp đều có những cải thiện nhất định đối với bệnh nhân. Trong đó, một số nhà nghiên cứu cho rằng biện pháp vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh có hiệu quả cao nhất trong việc cải thiện chất lượng tinh trùng, nhưng một số khác lại cho thấy việc phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn không là yếu tố làm cải thiện tỷ lệ có thai. Tại Việt Nam, hiện tại còn ít những nghiên cứu lâm sàng so sánh và đánh giá hiệu quả của các phương pháp điều trị này. Do đó chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định hiệu quả điều trị của vi phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn ở bệnh nhân nam vô sinh do oligo-astheno-teratospermia (OAT)có GTMTT.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu thực hiện trên các cặp vợ chồng vô sinh được xác định nguyên nhân vô sinh không do vợ mà do chồng bị OAT và có GTMTT. Tiêu chuẩn chọn mẫu là những ông chồng có GTMTT chưa được điều trị trước đó. GTMTT được xác định dựa trên khám lâm sàng và kết quả siêu âm. Bệnh nhân chỉ có biểu hiện giảm số lượng và chất lượng tinh trùng, ngoài ra không có biểu hiện lâm sàng khác. Bệnh nhân được xét nghiệm tinh dịch đồ 2 lần cách nhau 2-3 tuần, trước can thiệp và có kết quả tương đồng được nhận vào nghiên cứu. Nghiên cứu chọn được 59 cặp vợ chồng được chia làm 2 nhóm can thiệp: nhóm có thực hiện vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn (n=28) và nhóm không phẫu thuật (tư vấn thay đổi lối sống)(n=31). Quá trình theo dõi kéo dài 03 tháng sau can thiệp với xét nghiệm tinh dịch đồ. Các số liệu được tổng hợp và phân tích bằng Access 2007, SPSS ver. 18.
KẾT QUẢ
Có 59 cặp vợ chồng được chia làm 2 nhóm can thiệp: 28 cặp vợ chồng có thực hiện vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn, 31 cặp vợ chồng được tư vấn thay đổi lối sống không thực hiện phẫu thuật thoả tiêu chuẩn chọn mẫu của nghiên cứu. Các đặc điểm của mẫu được chọn không có khác biệt có ý nghĩa thống kê (Bảng 1).
Bảng 1. Các đặc điểm của mẫu
Các đặc điểm Thay đổi lối sống
N=31
Vi phẫu cột TM tinh giãn
N=28
Tuổi 31,45 ± 4,30 30,82 ± 4,70
Thời gian mong con 32,10 ± 20,89 35,43 ± 31,27
Tiền căn hút thuốc (>10điếu/ngày) 26 (83,87 %) 24 (85,71 %)
Thể tích tinh hoàn trái 12,19 ± 4,25 11,96 ± 3,98
Thể tích tinh hoàn phải 12,87 ± 4,01 13,04 ± 3,43
Mức độ GTMT trái 1,55 ± 0,57 2,36 ± 0,68
Mức độ GTMT phải 0,97 ± 0,60 1,18 ± 0,86
FSH 6,22 ± 2,41 9,00 ± 5,14
LH 5,63 ± 1,99 5,39 ± 1,74
Testosterone 4,76 ± 2,48 4,46 ± 2,02
Thay đổi lối sống, sau 3 tháng, mật độ tinh trùng tăng 2,5x106/ml (95%CI; (-0,78)-5,7), độ di động tiến tới nhiều hơn 2,66% (95%CI; 1,71-3,62), và tỷ lệ hình thái bình thường cao hơn 0,33% (95%CI; (-0,35)-1,01).
Với nhóm can thiệp bằng vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn, sau 3 tháng, mật độ tinh trùng tăng 9,5x106/ml (95%CI; (5,73)-13,27), độ di động tiến tới nhiều hơn 6,33% (95%CI; 3,51-9,15), và tỷ lệ hình thái bình thường cao hơn 1,53% (95%CI; (0,59)-2,47). Trong nghiên cứu, có 3,57% (n=1) bệnh nhân nam được vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn có triệu chứng đau tinh hoàn trong vòng 3 ngày sau phẫu thuật, 10,71% (n=3) nhiễm trùng vết thương sau phẫu thuật.
Bảng 2. Hiệu quả của thay đổi lối sống trên bệnh nhân OAT có GTMTT
Các chỉ số Trước 
can thiệp
Thay đổi 
lối sống
Độ chênh P
Mật độ tinh trùng (106TT/ml) 5,53 ± 1,56 7,02 ± 1,82 2,5 ± 3,2 0,220
Độ di động 
của tinh trùng (%)
17,18 ± 5,62 18,21 ± 4,30 2,66 ± 0,96 0,232
Hình thái 
bình thường (%)
1,42 ± 0,26 1,89 ± 0,62 0,33 ± 0,68 0,173
Bảng 3. Hiệu quả của vi phẫu cột tm tinh giãn trên bệnh nhân OAT có GTMTT
Các chỉ số Trước 
can thiệp
Vi phẫu cột TM tinh Độ chênh P
Mật độ tinh trùng (106TT/ml) 6,80 ± 1,50 12,97 ± 2,18 9,5 ± 3,77 <0,0001
Độ di động 
của tinh trùng (%)
15,16 ± 5,50 22,06 ± 4,46 6,33 ± 2,82 0,034
Hình thái 
bình thường (%)
1,35 ± 0,96 2,35 ± 0,88 1,53 ± 0,94 0,032
Khi so sánh vi phẫu cột giãn tĩnh mạch thừng tinh giãn và các biện pháp thay đổi lối sống cho kết quả: mật độ tinh trùng trong nhóm có phẫu thuật cao hơn nhóm không phẫu thuật 8,13x106/ml (95%CI; 4,28-11,99; P<0,0001) có ý nghĩa thống kê. Tuy nhiên không có ý nghĩa thống kê trong việc độ di động tiến tới tăng 4,15% (95%CI; 
(-0,47)-8,77; P=0,076) và tỷ lệ hình thái bình thường cao hơn 0,50% (95%CI; 
(-0,59)-1,59; P=0,354).
BÀN LUẬN
Theo Marmar và cộng sự, thực hiện phân tích gộp (meta-analysis) trên 5 nghiên cứu (gồm hai nghiên cứu RCT, ba nghiên cứu quan sát) trên bệnh nhân vô sinh kèm GTMTT (khám phát hiện trên lâm sàng và có tinh dịch đồ bất thường ít nhất một tham số) cho thấy tỷ lệ có thai tăng cao gấp 2,87 (Khoảng tin cậy 95% [CI]; 1,33-6,20) khi sử dụng mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (random – effects model) hoặc 2,63 (95%CI; 1,60-4,33) khi sử dụng mô hình ảnh hưởng bất biến (fixed – effects model). (Marmar et al., 2007)
Bảng 4. So sánh kết quả nghiên cứu ở nhóm vi phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn
Độ cải thiện Agarwal et al., 2007 NC của chúng tôi
Mật độ tinh trùng (106 TT/ml) 9,71 ± 2,37 9,5 ± 3,77
Độ di động của tinh trùng (%) 9,92 ± 5,03 6,33 ± 2,82
Hình thái bình thường (%) 3,16 ± 2,44 1,53 ± 0,94
Hiện nay có nhiều nghiên cứu khảo sát hình thái học của tinh trùng sau phẫu thuật. Vazquez-Levin và cs. (1997) công bố đầu tiên theo tiêu chuẩn của Kruger sau khi phẫu thuật bằng vi phẫu: 46% với hình thái học là 4-14% tăng có ý nghĩa thống kê trở về giá trị bình thường sau 3 tháng phẫu thuật. Kibar và cs. (2002) thực hiện trên 90 nam giới vô sinh có teratozoospermia (được xếp theo từng nhóm với mật độ: <5 triệu/mL, 5–20 triệu/mL, >20 triệu/mL) và kết quả cho thấy có sự gia tăng trong các nhóm nhưng đáng kể trong nhóm oligospermia (5-20 triệu/mL). Tuy nhiên cũng có những kết quả trái ngược, Okeke và cs. (2007) thực hiện 167 bệnh nhân vô sinh và GTMTT 2 bên. Tuy có tăng mật độ, độ di động nhưng hình thái học thì không tăng. Trong nghiên cứu của chúng tôi, gia tăng tỷ lệ tinh trùng có hình dạng bình thường sau phẫu thuật là 1,53 ± 0,94 (%), nhưng không có khác biệt có ý nghĩa so với thay đổi lối sống. Tuy nhiên cỡ mẫu trong nghiên cứu của chúng tôi còn nhỏ nên kết luận này chỉ có giá trị nhất định.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, thay đổi lối sống cho kết quả cải thiện chất lượng tinh trùng đáng chú ý. Như vậy có lẽ hút thuốc lá nhiều có thể ảnh hưởng đến giãn tĩnh mạch thừng tinh và chất lượng tinh trùng. Do đó khi hạn chế hoặc ngưng hẳn việc hút thuốc, duy trì lối sống lành mạnh, tinh dịch đồ có cải thiện.
Phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn cho thấy có cải thiện rõ rệt và có ý nghĩa thống kê trên số lượng và chất lượng tinh trùng nhưng không có ý nghĩa thống kê khi so sánh với thay đổi lối sống. Do đó cần có những nghiên cứu tiếp theo với cỡ mẫu lớn hơn để tìm ra khác biệt nếu có. Việc xác định tác động của phẫu thuật cột tĩnh mạch thừng tinh giãn và thay đổi lối sống có thể gợi ý nhà lâm sàng phối hợp thực hiện cả 2 phương pháp điều trị, và có thể trả lời câu hỏi có cần ưu tiên phẫu thuật tĩnh mạch thừng tinh giãn  và trì hoãn việc thực hiện các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ở bệnh nhân bị giãn tĩnh mạch thừng tinh hay không.
KẾT LUẬN
Vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn là một trong những phương pháp điều trị có hiệu quả, có cải thiện trên số lượng và chất lượng tinh trùng. Bên cạnh đó, những biện pháp thay đổi lối sống cũng có giá trị như phương pháp điều trị không dùng thuốc. Cần có những nghiên cứu tiếp theo đánh giá hiệu quả điều trị khi phối hợp vi phẫu cột tĩnh mạch thừng tinh giãn với các phương pháp điều trị khác (thay đổi lối sống, dùng thuốc hỗ trợ, … ) trên độ toàn vẹn của tinh trùng, tỷ lệ mang thai và tỷ lệ sinh sống, ... Việc giáo dục sức khoẻ và duy trì lối sống lành mạnh có thể góp phần tăng chất lượng tinh trùng trong cộng đồng chung.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.     AGARWAL, A., DEEPINDER, F., COCUZZA, M., AGARWAL, R., SHORT, R. A., SABANEGH, E. & MARMAR, J. L. 2007. Efficacy of varicocelectomy in improving semen parameters: new meta-analytical approach. Urology, 70, 532-8.
2.     COCUZZA, M., COCUZZA, M. A., BRAGAIS, F. M. & AGARWAL, A. 2008. The role of varicocele repair in the new era of assisted reproductive technology. Clinics (Sao Paulo), 63, 395-404.
3.     DAVID K GARDNER, A. W., COLIN M HOWLES, ZEEV SHOHAM, 2009. Textbook of Assisted Reproductive Technologies: Laboratory and Clinical Perspectives, London, Informa Healthcare.
4.     MARMAR, J. L., AGARWAL, A., PRABAKARAN, S., AGARWAL, R., SHORT, R. A., BENOFF, S. & THOMAS, A. J., JR. 2007. Reassessing the value of varicocelectomy as a treatment for male subfertility with a new meta-analysis. Fertil Steril, 88, 639-48.
Từ khóa:

khoa trương

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Ý kiến bạn đọc

 

|vé máy bay các hãng |ve may bay cac hang |vé máy bay rẻ nhất |ve may bay re nhat |tam be so sinh |hóa mỹ phẩm thái lan |hoa my pham thai lan

Thống kê

  • Đang truy cập: 1
  • Hôm nay: 212
  • Tháng hiện tại: 10574
  • Tổng lượt truy cập: 232228